20:45 ICT Thứ sáu, 27/11/2020
CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG BỘ, QUÂN VÀ DÂN TỈNH CÀ MAU (13/12/1940 – 13/12/2020)
Văn phòng điên tử
Sở giáo dục đào tạo
Cổng thông tin cà mau
Hệ thống mail
Cải cách hành chính
mạng giáo dục
Văn bản pháp quy

Tiện ích

Albums ảnh

Video

Văn bản

Download

Tỷ giá

Tháng M. một 27, 2020, 8:01 pm
Mua CK Bán
AUD 16.00 16.00 17.00
CAD 17.00 17.00 18.00
CHF 24.00 25.00 25.00
CNY 3.00 3.00 3.00
DKK - 3.00 3.00
EUR 26.00 27.00 28.00
GBP 30.00 30.00 31.00
HKD 2.00 2.00 3.00
INR - 313.06 325.34
JPY 214.91 217.08 226.10
KRW 18.14 20.16 22.08
KWD - 75.00 78.00
MYR - 5.00 5.00
NOK - 2.00 2.00
RUB - 305.74 340.68
SAR - 6.00 6.00
SEK - 2.00 2.00
SGD 16.00 17.00 17.00
THB 676.20 751.34 779.55
USD 23.00 23.00 23.00

Trang chủ Tin Tức Tin bài hoạt động trong ngành

hcm

Thực trạng đội ngũ giáo viên Tiếng Anh các trường THCS huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau

Thứ ba - 30/06/2015 10:08

 

THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH CÁC TRƯỜNG THCS

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

The current status of development of English teachers in secondary schools

 in Tran Van Thoi District – Ca Mau Province.

 

Tóm tắt

Bài viết đề cập thực trạng về số lượng, trình độ chuyên môn, cơ cấu đội ngũ, phẩm chất và năng lực đội ngũ giáo viên Tiếng Anh THCS huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Căn cứ vào thực trạng, chúng tôi đưa ra những kiến nghị để nâng cao hiệu quả công tác phát triển đội ngũ giáo viên Tiếng Anh ở các trường THCS, góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển đất nước.

Từ khóa: Đội ngũ giáo viên, số lượng, chất lượng, phẩm chất, năng lực.

Abstract

The paper addresses the current status of the number, qualifications, team structure, quality and capability of secondary English teachers in Tran Van Thoi District – Ca Mau Province. Based on the reality, we make recommendations to improve the effectiveness of development of English teachers in secondary schools, contributing to the preparation of human resources meeting the requirements of integration - development of the country.

Key words: Teaching staff, quantity, quanlity, capability

Đặt vấn đề

Mục tiêu của giáo dục THCS là: “… nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.” (Khoản 3, Điều 27 Luật giáo dục năm 2005). Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục THCS đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải hội tụ được một cách đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Trong tiến trình hội nhập của Việt Nam nói chung, của giáo dục nước nhà nói riêng, cùng với công nghệ thông tin, ngoại ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng. Ngoại ngữ được xem là một trong những điều kiện cần thiết, tiên quyết, là công cụ, phương tiện đắc lực và hữu hiệu trong tiến trình hội nhập và phát triển, là con đường ngắn nhất để tiếp cận mọi thành tựu văn hóa, tiến bộ khoa học và kỹ thuật của thế giới. Như vậy, có thể nói phát triển đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên Tiếng Anh THCS nói riêng đã trở thành chiến lược cách mạng mang tính thời đại sâu sắc, góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp đổi mới GD, góp phần phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát 44 cán bộ quản lý(CBQL), 46 GV Tiếng Anh của 22 trường THCS trong toàn huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau năm học 2014 -2015 làm luận cứ thực tiễn, để từ đó kiến nghị các cấp quản lý giáo dục đặc biệt quan tâm, hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển đội ngũ giáo viên Tiếng Anh THCS ở các trường.

1. Về số lượng giáo viên

Bảng 1 : Số lượng và tỷ lệ GV trên lớp

Tiêu chí

2010-2011

2011-2012

2012-2013

2013-2014

2014-2015

Tổng Số GV

594

607

615

580

581

Số Lớp

243

254

267

275

280

Tỷ lệ GV/lớp

2.44

2.39

2.3

2.11

2.08

GV TA

55

50

51

51

51

Tỷ lệ lớp/GV

4.42

5.08

5.54

5.39

5.49

Qua số liệu bảng 1 cho thấy: Từ nhiều năm qua huyện Trần Văn Thời trong tình trạng dư giáo viên trầm trọng làm ảnh hưởng lớn đến việc phát triển đội ngũ cũng như chất lượng giảng dạy cũng như tinh thần của giáo viên, có nhiều giáo viên trong nhiều năm liền được xếp trong danh sách dôi dư nên họ chưa an tâm công tác. Cụ thể:

Năm học 2010 - 2011 số lượng giáo viên THCS trong toàn huyện là: 594 GV và số lớp hiện có là: 243, tỷ lệ là: 2,44 GV/lớp. Về số lượng, hiện nay tương đối ổn định và tiến gần đến định mức quy định, năm học 2014-2015 số lượng giáo viên THCS trong toàn huyện là: 581 GV và số lớp hiện có là: 280, tỷ lệ là: 2,08 GV/lớp. So với yêu cầu quy định 1,9 GV/lớp thì số giáo viên THCS  chỉ còn dư là: 0,18 GV/lớp. Tình trạng dư giáo viên ở nhiều môn nhưng chủ yếu dư giáo viên ở các môn khác, còn GV tiếng Anh đã dạy 15-16 tiết/tuần chưa tính các kiêm nhiệm khác. Trong các năm qua Phòng GD-ĐT đã tham mưu UBND huyện xây dựng kế hoạch tinh giản GV trên cơ sở quy hoạch phát triển mạng lưới trường lớp; chuyển một số giáo viên Tiếng Anh qua dạy cấp Tiểu học.

2. Về trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên Tiếng Anh

Bảng 2 : Trình độ đào tạo giáo viên Tiếng Anh THCS huyện Trần Văn Thời năm học 2014-2015

 

Tổng

Nữ

Trình độ đào tạo

Chuẩn Châu Âu

Xếp loại

Trung cấp

Cao đẳng

Đại học

Thạc sỹ

A1

A2

B1

B2

Tốt

Khá

TB

Chưa đạt

51

35

0

13

38

0

9

26

13

3

20

24

7

0

%

68,62

0,0

25,49

74,51

0,0

17,64

50,98

25,49

5,89

39,22

47,06

13,72

0,0

Đội ngũ GV Tiếng Anh huyện Trần Văn Thời hiện nay đã được đào tạo tương đối chuẩn, 100% giáo viên đạt chuẩn theo quy định, số GV trên chuẩn về trình độ đào tạo ngày càng cao nhưng hầu hết là được đào bằng các hình thức không chính quy. Số giáo viên này theo lý thuyết là đảm nhận được viêc dạy học theo hướng đổi mới nhưng qua thực tiễn và khảo sát vào tháng 8 năm 2012 (Sở GD-ĐT Cà Mau phối hợp với trường Đại học Cần Thơ khảo sát tất cả giáo viên Tiếng Anh trên địa bàn theo khung tham chiếu Châu Âu), kết quả huyện Trần Văn Thời chỉ có 5,89% giáo viên đạt chuẩn B2, có 68,62% giáo viên đạt chuẩn A1 và A2. Qua đó ta thấy trình độ chuyên môn của GV Tiếng Anh của huyện vẫn còn nhiều bất cập.

Đa số giáo viên đạt chuẩn B1 và B2 đang giảng dạy ở các trường trung tâm 2 thị trấn. Nếu theo định hướng phát triển giáo viên theo Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020 của Chính phủ tỷ lệ giáo viên THCS đạt chuẩn B2 thì có lẽ ở huyện Trần Văn Thời cần nỗ lực lớn và kế hoạch cụ thể mới có thể đạt được.

Số lượng GV được xếp loại khá, giỏi là 86,28%. Tuy nhiên tỷ lệ này không đồng đều giữa các trường. Vẫn còn số GV dạy dạy tăng tiết như trường THCS Khánh Hưng, THCS 2 Lợi An có 7 lớp nhưng chỉ có 1 giáo viên, nhưng trái lại cũng còn nhiều giáo viên dạy thiếu tiết như trường THCS 1 Sông Đốc, THCS 1 Lợi An.

3. Về cơ cấu đội ngũ giáo viên

Do quy mô trường lớp không đều, có trường có quá nhiều lớp nhưng lại có nhiều trường có quy mô nhỏ nên GV ở các môn học tỷ lệ không đồng đều theo quy định. Riêng môn Tiếng Anh, hiện nay huyện Trần Văn Thời có 5 trường chỉ có 1 giáo viên (đây là các trường mới tách hoặc mới được thành lập). Giáo viên ở các trường này là giáo viên mới ra trường, tuổi đời cũng như tuổi nghề còn trẻ nên còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và các hoạt động giáo dục. Các giáo viên này phải soạn giảng từ 18 đến 22 tiết/tuần và rất khó để học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp khác cũng như được sự.

Hầu hết đội ngũ GV Tiếng Anh các trường đang ở trong tuổi từ 31 đến 40 nên vẫn còn tràn đầy nhiệt tình và năng động nhưng lại có rất ít giáo viên trên 40 tuổi độ tuổi được cho là chính muồi của sự nghiệp. Tỷ lệ Đảng viên so với tổng số GV trong toàn cấp học còn hạn chế, chỉ có 7/51 GV chiếm tỷ lệ 13,73%.

Giáo viên giỏi, giáo viên cốt cán có trình độ chuyên môn cao ở các trường không đồng đều. Hầu hết các trường chưa có quy hoạch dài hạn để phát triển đội ngũ GV cho trường mình. Nếu theo định hướng “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục” thì huyện Trần Văn Thời cần nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa và phải xây dựng kế hoạch dài hạn, cụ thể từng giai đoạn mới có thể đạt được vì huyện còn khá nhiều bất cập trong cơ cấu đội ngũ giáo viên và nhất là giáo viên trong độ tuổi sinh đẻ nuôi con nhỏ chiếm tỷ lệ cao. Giáo viên trẻ, GV mới ra trường đang tập sự chiếm tỷ lệ cao. Điều đó cũng có những mặt thuận lợi như xông xáo, nhiệt tình trong công tác, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, có kiến thức cơ bản, song kinh nghiệm chuyên môn và nghiệp vụ còn hạn chế.

4. Về phẩm chất đội ngũ giáo viên

Bảng 3: Thực trạng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống GV Tiếng Anh THCS

Các tiêu chí

Mức độ

Đánh giá của CBQL

Đánh giá của GV

Số lượng

 %

Số lượng

 %

1. Nhận thức trách nhiệm nhà giáo đối với

nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tốt

23

1

 

52,27

36

78,26

Khá

20

45,46

10

21,74

TB

1

2,27

0

0

Yếu

0

0

0

0

2. Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà

nước

Tốt

21

47,72

35

76,09

Khá

21

47,72

10

21,74

TB

2

4,56

1

2,17

Yếu

0

0

0

0

3. Thực hiện Quy chế của ngành, qui định của

nhà trường, kỉ luật lao động

 

Tốt

22

50,00

33

71,74

Khá

20

45,45

13

28,26

TB

2

4,55

0

0

Yếu

0

0

0

0

4. Đạo đức nhân cách, lối sống, tinh thần đấu

tranh chống tiêu cực, ý thức phấn đấu vươn lên

trong nghề nghiệp, sự tín nhiệm của đồng

nghiệp, học sinh và cộng đồng

Tốt

24

54,55

33

71,74

Khá

19

43,18

13

28,26

TB

1

2,27

0

0

Yếu

0

0

0

0

5. Trung thực trong công tác; đoàn kết trong

quan hệ đồng nghiệp, giáo dục học sinh bằng

tình thương yêu, sự công bằng và trách nhiệm;

đáp ứng nguyện vọng chính đáng của phụ huynh

HS

Tốt

24

54,55

28

60,87

Khá

20

45,45

18

39.13

TB

0

0

0

0

Yếu

0

0

0

0

Bảng 3 cho thấy:

- Đa số giáo viên đã nhận thức sâu sắc nhiệm vụ của nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, công tác từ thiện, ủng hộ đồng bào gặp thiên tai hỏa hoạn, giúp đỡ họ vượt qua khó khăn; Luôn giữ vững lập trường cách mạng, tư tưởng của Bác; Cố gắng vượt qua khó khăn trong cuộc sống hoàn thành tốt nhiệm vụ trồng người đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của địa phương, cùng với địa phương làm tốt công tác bảo vệ trật tự an ninh (52,27% CBQL và 78,26 GV đánh giá Tốt, chỉ có 2,27% CBQL đánh giá TB).

            - GV thực sự là đội ngũ tri thức cho nên có ý thức chấp hành chủ trương chính sách của nhà nước, các qui định của địa phương; liên hệ thực tế để giáo dục học sinh chấp hành pháp luật, tuyên truyền vận động mọi người chấp hành tốt pháp luật, tham gia tổ chức các hoạt xã hội đạt khá và tốt ở tỷ lệ cao. Trong các năm qua chưa có rất ít GV Tiếng Anh vi phạm pháp luật (47,72% CBQL và 76,09% GV đánh giá Tốt; 47,72% CBQL và 21,74% đánh giá Khá; tuy nhiên còn 4,56% CBQL và 2,17%GV đánh giá TB ), một số CBQL và giáo viên đánh giá tiêu chí này TB là vì vẫn còn một vài trường hợp vi phạp luật an toàn giao thông, hút thuốc lá nơi công cộng...

            - Thực hiện Quy chế của ngành, qui định của nhà trường, kỉ luật lao động có đa số GV thực hiện tốt thì vẫn còn một bộ phận chưa thực hiện qui chế chuyên môn tốt ( 50,00% CBQL và 71,74% GV đánh giá Tốt; 45,45% CBQL và 28,26% GV đánh giá Khá, tuy nhiên còn 4,55% CBQL đánh giá TB ), số giáo viên này chủ yếu soạn giảng chất lượng chưa cao, công tác dự giờ rút kinh nghiệm còn ít.

-  Đa số GV có đạo đức nhân cách tốt, lối sống lành mạnh, trung thực, có tinh thần đấu tranh chống tiêu cực, có ý thức phấn đấu vươn lên trong nghề nghiệp, được đồng nghiệp tín nhiệm, học sinh và cộng đồng tôn trọng và tin tưởng thì vẫn còn hiện tượng GV chưa gương mẫu trước học sinh, chưa thẳng thắn đấu tranh phê và tự phê đồng nghiệp (54,55% CBQL và 71,74% GV đánh giá Tốt, có đến 43,18% CBQL và 28,26% GV đánh giá Khá; còn 2,27%CBQL đánh giá TB).

            - GV trung thực trong công tác; đoàn kết trong quan hệ đồng nghiệp, GD học sinh bằng tình thương yêu, đối xử công bằng và trách nhiệm, không thành kiến với HS; đáp ứng nguyện vọng chính đáng của phụ huynh HS. Qua khảo sát điều tra và qua quá trình quản lý, tác giả nhận thấy số lượng GV thực hiện tiêu chí rất tốt ( (54,55%CBQL và 60,87% GV đánh giá Tốt; 45,45% CBQL và 39,13% GV đánh giá Khá).Còn một số CBQL và GV đánh giá Khá là do còn có GV đánh giá học sinh chưa chặt chẽ, chưa sát thực, chưa gần gũi với học sinh.

5. Về năng lực đội ngũ giáo viên

Để nghiên cứu về năng lực của giáo viên Tiếng Anh THCS huyện Trần Văn Thời, tác giả đã tiến hành khảo sát CBQL và GV Tiếng Anh theo bảng sau:

Bảng 4: Thực trạng năng lực GV Tiếng Anh THCS huyện Trần Văn Thời qua đánh giá của CBQL và GV các trường THCS

Nội dung

Tốt

Khá

TB

Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

1.  Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục

44

48,89

41

45,55

5

5,56

0

0

2. Xây dựng kế hoạch dạy học  

49

54,45

38

42,22

3

3,33

0

0

3. Đảm bảo kiến thức, chương trình môn học  

62

68,89

26

28,89

1

1,11

1

1,11

4. Vận dụng các phương pháp dạy học

51

56,67

34

37,78

5

5,55

0

0

5  Sử dụng các phương tiện dạy học

38

42,22

45

50,00

7

7,78

0

0

6. Quản lý hồ sơ dạy học  

57

63,34

30

33,33

3

3,33

0

0

7. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh  

50

55,56

36

40,00

4

4,44

0

0

8. Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục

53

58,89

30

33,33

7

7,78

0

0

9. Giáo dục qua môn học  

48

53,33

34

37,78

8

8,89

0

0

10. Giáo dục qua các hoạt động giáo dục và các hoạt động trong cộng đồng  

31

34,44

49

54,45

9

10

1

1,11

11. Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục   

38

42,22

44

48,89

8

8,89

0

0

12. Phối hợp với gia đình học sinh và cộng đồng  

46

51,11

37

41,11

7

7,78

0

0

13. Tham gia hoạt động chính trị, xã hội

48

53,33

35

38,89

7

7,78

0

0

14. Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện  

41

45,56

44

48,89

5

5,55

0

0

Từ số liệu tổng hợp (Bảng 4) về thực trạng năng lực đội ngũ giáo viên Tiếng Anh các trường THCS huyện Trần Văn thời cho thấy: Với tỉ lệ khoảng 94,44% CBQL và GV đánh giá về năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục của giáo viên Tiếng Anh đối với yêu cầu giáo dục hiện nay là đáp ứng được (mức độ đánh giá là Tốt và Khá). Tuy nhiên, vẫn còn số giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu này với tỉ lệ (5,66 % CBQL và GV đánh giá TB).

            Qua kiểm tra hàng năm và đánh giá của các trường, GV Tiếng Anh đã xây dựng được kế hoạch giảng dạy tuần, tháng, năm học bao gồm hoạt động chính khoá và hoạt động ngoài giờ lên lớp; soạn giáo án đầy đủ theo hướng đổi mới và tích cực hoá hoạt động của thầy và trò. Số GV lúng túng trong việc lập kế hoạch; soạn bài không đầy đủ, máy móc theo sách thiết kế bài giảng không phù hợp với đối tượng là rất ít (chỉ có 3,33% CBQL và GV đánh giá TB), những GV này chủ yếu là GV mới ra trường.

            Phần lớn giáo viên đảm bảo kiến thức, chương trình môn học, biết tổ chức và thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp phát huy được tính năng động, sáng tạo của học sinh, có câu hỏi kiểm tra phù hợp với đối tượng (chỉ có 1,11 % CBQL và GV đánh giá TB và 1,11% đánh giá Yếu); khai thác và sử dụng đồ dùng dạy học để phục vụ giờ dạy. Tuy nhiên số GV có kỹ năng sử dụng các phương tiện đồ dùng dạy học ở mức trung bình còn nhiều (có đến 7,78% CBQL và GV đánh giá TB). Nguyên nhân là hiện tại nhiều trường chưa có phòng học phòng lab, máy chiếu Projector, phương tiện nghe nhìn. Việc sử dụng thiết bị đưa vào bài dạy còn mang tính đối phó. Các đồ dùng thí nghiệm sau nhiều năm sử dụng đã hư hỏng chưa được bổ sung. Công tác quản lý công việc này còn lỏng lẻo, ý thức tự giác, tìm tòi sáng tạo vượt khó khi gặp bài dạy có thí nghiệm thực hành của GV còn non, một số tiết dạy chay nếu không có sự kiểm tra của Hiệu trưởng.

Theo đánh giá của CBQL các trường hầu hết GV đã quản lý hồ sơ dạy học rất tốt (63,34% Tốt, 33,33% Khá). Kết quả có được là do công tác ký duyệt giáo án, kế hoạch, hồ sơ dạy học ở các trường được thực hiện thường xuyên và có chất lượng.

Đa số giáo viên đã trang bị cho mình năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh; từng bước đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực của học sinh và dạy cho các em biết phương pháp tự đánh giá mình và đánh giá các bạn cùng lớp. Tuy nhiên vẫn còn giáo viên chậm đổi mới kiểm tra đánh giá, chỉ đánh giá kỹ năng viết, kỹ năng đọc của học sinh mà chưa đánh giá kỹ năng nghe và kỹ năng nói. Nguyên nhân một phần do năng lực của giáo viên, một phần do điều kiện CSVC của các trường. Kết quả khảo sát (55,56% CBQL và GV đánh giá Tốt, có 37,78% CBQL và  GV đánh giá Khá; còn 4,44% CBQL và đánh giá TB).

Nhiều GV đã xây dựng được các kế hoạch hoạt động giáo dục, giáo dục qua môn học, giáo dục qua các hoạt động giáo dục, qua các hoạt động trong cộng đồng; đã biết vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục. Có kế hoạch hợp tác, phối hợp với đồng nghiệp, với phụ huynh học sinh trong việc GD học sinh, chịu khó tìm hiểu đặc điểm, hoàn cảnh học sinh để có biện pháp GD thích hợp. Song vẫn còn một số GV năng lực công tác còn yếu, ngại tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, ngại va chạm (7,78% CBQL và GV đánh giá TB). Ý thức xây dựng tập thể, xây dựng trường chưa cao dẫn đến việc tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp của một số GV chưa tốt. Công tác quản lý của các cấp lãnh đạo chưa đủ mạnh, chưa kích thích động viên để họ tham gia, hăng say công việc.

Phần lớn GV đã biết tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện, bồi dưỡng năng lực tự học, tự bổ túc và hoàn thiện tri thức của mình, đầy đủ ý thức tự nguyện làm “một thứ bọt biển” để thấm hút vào mình mọi tinh hoa của khoa học, của nền văn hoá nhân loại. (45,56% CBQL và  GV đánh giá Tốt, có 48,89% CBQL và GV đánh giá Khá; còn 5,55% CBQL và GV đánh giá TB).

Như vậy, với năng lực hiện có của đội ngũ giáo viên tiếng Anh thể hiện sự phấn đấu không ngừng của đội ngũ giáo viên và góp phần không nhỏ vào thành công của các nhà trường. Nhưng với sự đổi mới về chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học, sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội ... Đây sẽ là những vấn đề cần được các trường quan tâm để phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

 Kết luận và kiến nghị

 Kết luận

            -Đội ngũ GV tiếng Anh của huyện Trần Văn Thời đã được chuẩn hoá, tỷ lệ trên chuẩn ngày càng cao. Chất lượng của hoạt động quản lý, sinh hoạt chuyên môn tổ, nhóm đã được quan tâm và có chuyển biến tích cực.

            - Do xuất phát điểm về ngoại ngữ của một bộ phận GV quá thấp, một số giáo viên chỉ bắt đầu học Tiếng Anh sau khi tốt nghiệp THPT nên năng lực chuyên môn còn hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu giảng dạy hiện tại nhất là GV hệ cử tuyển. Một số giáo viên kiến thức chưa vững vàng, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới, chưa quan tâm đến sử dụng các thiết bị và phương tiện dạy học hiện đại.

            - Đa số GV tâm huyết với nghề nhưng vẫn còn một bộ phận GV chưa tâm huyết, chưa quan tâm đến nghề nghiệp, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên, làm ảnh hưởng đến uy tín chung của đội ngũ toàn ngành. Một số giáo viên ở địa phương khác đến nên còn tư tưởng chưa an tâm công tác ổn định lâu dài. Một số GV tinh thần trách nhiệm chưa cao, hiệu quả giờ dạy thấp.

 Kiến nghị

- Sở GD&ĐT Cà Mau có kế hoạch đào tạo, bồi và tuyển dụng đội ngũ giáo viên Tiếng Anh nói chung và GV Tiếng Anh THCS nói riêng; tiếp tục bồi dưỡng nhận thức, vai trò và trách nhiệm đối với CBQL, GV trường THCS trong việc phát triển đội ngũ GV Tiếng Anh THCS.

- UBND huyện cần trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho Hiệu trưởng các trường THCS trong việc tuyển chọn GV nói chung và GV tiếng Anh nói riêng.

- Hiệu trưởng các trường THCS cần tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá cũng như tạo điều kiện cho GV cơ hội học tập để bồi dưỡng phẩm chất, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

- Đội ngũ GV Tiếng Anh THCS cần ý thức tự giác học tập, tự tạo cơ hội cho mình để học tập nâng cao trình độ chuyên môn, có ý thức tự bồi dưỡng phẩm chất, có trách nhiệm với cộng đồng, cộng đồng trách nhiệm với công cuộc “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục” của Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ GD&ĐT: Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về Ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông.

2. Bộ GD&ĐT: Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 về Ban hành Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.

3. Chính phủ: Quyết định số 1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020”.

4. Đảng Cộng Sản Việt Nam: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Ban chấp hành TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

5. Luật giáo dục (2005), NXB Chính trị quốc gia Hà nội.




Tác giả bài viết: Võ Quốc Hải - 0917179559

Nguồn tin: Phòng GD&ĐT huyện Trần Văn Thời

Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin vắn

  • * Tính đến ngày 01/4/2020, Phòng GD&ĐT huyện có 43/82 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1
    Mầm non, mẫu giáo: 11 trường; Tiểu học 19 trường; THCS 13 trường.
  • * Học kỳ 1 năm học 2019 - 2020 Phòng GD&ĐT huyện có 84 trường trực thuộc với 1.060 nhóm, lớp và 32.531 học sinh
    Mầm non, mẫu giáo 16 trường, 162 lớp với 4.672 cháu; Tiểu học 47 trường, 638 lớp với 17.875 học sinh; THCS 21 trường, 260 lớp với 9.984 học sinh.
  • * Đến giữa học kỳ 2 năm học 2019-2020 toàn huyện còn 46 trường tiểu học, 20 trường THCS trực thuộc Phòng GD&ĐT
    Ngày 21/01/2020, Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời ra Quyết định số 67/QĐ-UBND về việc sáp nhập Trường Trung học cơ sở 2 Lợi An với Trường Trung học cơ sở 1 Lợi An thành Trường Trung học cơ sở Lợi An. Quyết định số 68/QĐ-UBND về việc sáp nhập Trường Tiểu học 2 Lợi An với Trường Tiểu học 3 Lợi An thành Trường Tiểu học 2 Lợi An.

Thư mục tài liệu


Open all | Close all

Liên Kết Website

 

Danh Ngôn Cuộc Sống

Một ông thầy mà không dạy được cho học trò việc ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi.

Hỗ trợ trực tuyến

Quản trị
Name: Văn Thư

Thống Kê Truy Cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 16


Hôm nayHôm nay : 7435

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 231525

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 10005489