06:58 EDT Thứ hai, 21/05/2018
CHÀO MỪNG 87 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH (26/3/1931 - 26/3/2018)
Văn phòng điên tử
Sở giáo dục đào tạo
Cổng thông tin cà mau
Hệ thống mail
Cải cách hành chính
mạng giáo dục
Văn bản pháp quy

Tiện ích

Albums ảnh

Video

Văn bản

Download

Tỷ giá

Tháng Năm 21, 2018, 6:16 am
Mua CK Bán
AUD 16,940.95 17,043.21 17,195.19
CAD 17,396.33 17,554.32 17,781.63
CHF 22,489.25 22,647.78 22,941.33
DKK - 3,538.24 3,649.21
EUR 26,551.96 26,631.86 26,869.35
GBP 30,300.89 30,514.49 30,786.60
HKD 2,860.46 2,880.62 2,923.80
INR - 334.26 347.38
JPY 202.19 204.23 206.05
KRW 19.43 20.45 21.73
KWD - 75,321.68 78,278.36
MYR - 5,694.14 5,767.94
NOK - 2,763.32 2,849.99
RUB - 364.62 406.30
SAR - 6,059.40 6,297.25
SEK - 2,568.49 2,633.20
SGD 16,742.16 16,860.18 17,044.59
THB 694.14 694.14 723.11
USD 22,745.00 22,745.00 22,815.00

Trang chủ Tin Tức Những câu chuyện về Bác Hồ

hcm

10 Đại pho sách Huyền Thoại lưu danh Anh hùng liệt sĩ Việt Nam: Huyền thoại Điện Biên (Kỳ 1)

Thứ hai - 14/09/2015 21:57


HTDB phan 1 anh 1

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu đã đưa cuộc kháng chiến chín năm của dân tộc ta chống thực dân Pháp tới thắng lợi hoàn toàn, giải phóng một nửa đất nước. Đó là một trong nhưng chiến công chói lọi nhất trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, như những chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa..., làm rạng danh đất nước Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Trong cuộc đọ sức quyết liệt ấy - giữa một bên là sức mạnh tàn khốc của các loại vũ khí tối tân, của một tập đoàn cứ điểm được coi là “bất khả chiến bại” lúc bấy giờ, với một bên là sức mạnh của ý chí con người, của lòng quả cảm, sẵn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh - quân và dân ta đã chiến thắng. Và trong chiến công vĩ đại ấy, hàng nghìn chiến sĩ, bộ đội, dân công hỏa tuyến, thanh niên xung phong, văn nghệ sĩ... đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc.

Năm tháng trôi qua, nhưng công lao của các Anh hùng liệt sĩ Điện Biên thì mãi mãi được tạc ghi trong tâm khảm các thế hệ người Việt Nam. Đúng vào dip kỷ niệm 60 năm Ngày thương binh, liệt sĩ (27/7/1947  27/7/2007), một đóa hoa Uống nước nhớ nguồn tuyệt đẹp vừa bừng nở giữa đất trời Điện Biên, giữa “Thung lũng của những linh hồn bất tử” - Cuốn sách lớn Huyền thoại Điện Biên do Trung tâm Thông tin Truyền thông Vì môi trường phát triển chủ trì thực hiện với sự chung tay góp sức của nhiều doanh nghiệp, doanh nhân, như một nén tâm nhang - một tượng đài bằng chữ dâng lên các Anh hùng, liệt sĩ Điện Biên Phủ.

Lật giở từng trang sách với một bố cục nội dung đầy dấu ấn lịch sử hào hùng, cuốn sách đã tái hiện thật sinh động về một Chiến dịch Điện Biên Phủ ác liệt và hào hùng hơn nửa thế kỷ trước. Lịch sử có thể không lặp lại, nhưng lịch sử Điện Biên Phủ thì đã được khắc họa lại tương đối rõ nét trong Huyền thoại Điện Biên. Ở đó có dân tộc, có thời đại có hai chiến tuyến có cả tính khốc liệt của chiến tranh và cả chất nhân văn của những con người bảo vệ chân lý. Nhưng trên tất cả là ý chí ngoan cường, lòng dũng cảm vô song của những người chiến sĩ Điện Biên, bất chấp sự hy sinh, quyết chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, đánh bại kẻ thù xâm lược. Huyền thoại Điện Biên với sự thể hiện sâu sắc và có tính khái quát cao, thật sự “Là một công trình có giá trị về văn hóa, lịch sử, truyền thống rất sâu sắc. Tập sách là pho tư liệu lịch sử quý giá trong kho tàng lịch sử của dân tộc Việt Nam...” đúng như nhận xét của nguyên Tổng Bí thư BCH T.Ư Đảng Lê Khả Phiêu về cuốn sách.

Sau đây Ban Biên tập Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh xin giới thiệu cùng bạn đọc Cuốn sách Huyền thoại Điện Biên (Theo Tạp chí Trí thức và Phát triển - Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, Bộ Sách điện tử Huyền thoại Điện Biên - Trang http://uongnuocnhonguon.vn).

Điện Biên trên bản đồ Tổ quốc

Điện Biên có một vị trí chiến lược và là một vùng kinh tế trù phú, một trung tâm chính trị, văn hóa của đồng bào miền núi ở miền biên cương Tây Bắc.

Điện Biên còn có tên gọi là Mường Theng1. Mường Theng2 hay Mường Thanh, bao gồm một vùng núi rừng bao la, trùng trùng điệp điệp với những thung lũng nhỏ hẹp màu mỡ vây quanh cánh đồng Mường Thanh, trấn ngự giữa những con đường từ Lào sang Lai Châu xuống Sơn La và từ tây nam Trung Quốc xuống miền Trung Lào, sang miền núi các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, trong lưu vực ba con sông Mã, Nậm Núa (chi nhánh của sông Nậm U), Nậm Mấc và dãy núi Pú Xam Xao. Đó cũng là miền “gà gáy ba nước đều nghe tiếng”3, là nơi gặp gỡ của nhiều dân tộc, nhiều tiếng nói, nhiều phong, tục khác nhau, miền xưa kia trong lịch sử đã từng có thời kỳ “ai mạnh làm chúa, ai yếu làm tôi”, luôn luôn xảy ra loạn lạc, tranh chấp, gươm đao...

Điện Biên còn là miền vừa có núi non hùng vĩ, vừa có cánh đồng rộng thẳng cánh cò bay, cảnh yêu, người mến. Thực tế, những dãy núi ở đây cao thấp khác nhau, muôn màu muôn vẻ nằm trên độ cao so với mặt biển từ 500 - 1.000 mét. Dãy núi Pú Xam Xao chạy dọc theo biên giới Việt - Lào chắn ngang như một trường thành thiên nhiên với đỉnh núi cao nhất 1.897mét ôm chặt lấy cả miền Điện Biên. Phía Bắc dãy núi là lớp núi đá vôi, cây cối phủ kín um tùm với nhiều hang động đẹp đẽ tạo thành một khối lớp nọ nối lớp kia. Đó là dãy Tây Trang, cửa ngõ của đất Điện Biên qua nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào. Sang phía đông sừng sững một dãy núi cao từ 1.200 đến 1.700 mét, từ đó xòe ra như một chiếc quạt thành ba dãy bao vây lấy cánh đồng Điện Biên, chỗ cao, chỗ thấp, chỗ chĩa ra những khối đá hoa cương rắn chắc, bướng bỉnh, chỗ lại tạo thành những dãy đồi núi hiền lành chịu để cho cây cối phủ kín um tùm. Dãy thứ nhất tỏa ra như chạy theo hướng tây nam như muốn đuổi dòng sông Nậm Mấc, quanh năm nước chảy từ từ, ít thác, hiếm ghềnh. Dãy thứ hai chạy theo hướng Bắc Nam dọc theo phía Đông cánh đồng Mường Thanh. Khi tới Mường Phăng, dãy núi sa thạch và vôi này lan rộng thành một cao nguyên hoa cương kèm bên cạnh dãy núi sa thạch nằm phía bên cánh đồng. Dãy thứ ba ngắn nhất chạy theo hướng đông nam chỉ vươn đến cánh đồng Tuần Giáo là dừng lại. Chen vào những dãy núi xanh thẳm là những cánh đồng xinh xắn nép kín trong những thung lũng nhỏ hẹp, có nơi chỉ rộng chừng vài trăm mét. Cánh đồng được tô điểm cho đẹp thêm bởi những dòng sông suối nhỏ chảy uốn quanh thế đất, khi cô độc chảy một mình, khi lại quyện với nhau một cách thân thương. Trông từ trên cao ở đằng xa, chúng giống như những tấm lụa màu sáng trải tự nhiên trên những thảm mạ xanh rờn. Chính những chi nhánh của những con sông Mã, Nậm Mấc và Nậm Núa này đã đem lại cho những cánh đồng Điện Biên kia những lớp đất màu mỡ, và nhờ đó mà mảnh đất gần biên cương này trở nên trù phú.

HTDB phan 1 anh 2
Cánh đồng lúa Mường Thanh

Nằm gọn giữa những dãy núi kể trên, bao bọc xung quanh hơn 20 ngọn núi to nhỏ cao thấp khác nhau, cánh đồng Mường Thanh phì nhiêu nhất của đất Tây Bắc chạy dài trên hai chục cây số với bề rộng năm cây số. “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc”. Ở Tây Bắc có bốn vựa lúa, thì thứ nhất là Mường Thanh, gạo nước nuôi sống được vài chục vạn con người, thứ nhì là Mường Lò, tức cánh đồng Nghĩa Lộ, thuộc huyện Văn Chấn; thứ ba là Mường Than, tức cánh đồng Than Uyên ở phía bắc tỉnh Nghĩa Lộ cũ; thứ tư là Mường Tấc, tức cánh đồng Phù Yên phía nam tỉnh Sơn La, trên con đường từ Sơn La đi Yên Bái.

Cuối cánh đồng Mường Thanh, con sông Nậm Núa tỏa ra chi nhánh của nó là dòng sông Nậm Rốm khi hiền lành nước chảy lờ đờ, lúc hung dữ nước như con ngựa tuột cương lồng lộn gây ra lũ lụt. Dòng sông bất kham này đã là đầu đề cho nhiều câu chuyện khủng khiếp truyền miệng trong nhân dân, là hình ảnh của nạn hồng thủy xa xưa của loài người4. Từ con sông mẹ hung ác này tỏa ra nhiều dòng suối nhỏ tưới khắp cánh đồng Điện Biên. Những dòng suối con như muốn ban ơn cho con người, ngoan ngoãn chảy trong những lòng khe đưa nước vào ruộng hai bên bờ, đền bù cho sự tàn phá của sông mẹ những khi tức giận.

Khí hậu vùng Điện Biên chia thành hai mùa rõ rệt. Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 và kết thúc vào tháng 5 dương lịch. Đó là mùa bắt đầu từ những tháng lạnh nhất và kết thúc vào những ngày nóng nực nhất, vào tháng chín theo lịch Thái (tức là tháng tư, tháng năm dương lịch).

“Nắng hanh rọi vào cành đa,

Gió nhẹ lay cành sấu, cành cha.

Lưng kiến nắng vàng lóng lánh,

Ve kêu gây tiếng nhạc sầu.

Dóng nứa tre rừng nổ ran lốp đốp.

Rừng cây than khóc, buồn ơi buồn.

Cây mai, cây vầu, lá lìa cành,

Cây vả cây si trơ thân đứng...”5.

Về mùa khô, trong những thung lũng, sáng sớm sương mù bao phủ, người ta chỉ có thể trông thấy những ngọn núi trước mặt vào buổi trưa, khi mặt trời đã lên cao. Mùa này mưa ít, khí hậu khô hanh. Mùa mưa bắt đầu từ tháng sáu và kết thúc vào tháng chín, tháng mười dương lịch. Khí hậu ẩm thấp, có nhiều lúc mưa bất thán kéo đến như xối nước đổ xuống suốt mấy giờ liền, lại nhiều khi mưa dầm rả rích lê thê kéo dài hàng tuần. Lũ lụt gây nên tai họa vào tháng một lịch Thái (tức tháng bảy, tháng tám dương lịch):

“Tháng một nước lũ về,

Ngày mười hai nước dâng,

Ngày rằm nước đục ngầu,

Nước ngập đỏ ngọn cây ngọn cỏ,

Hai con cào cào ôm cổ nhau than khóc,

Nước ngập rừng “chay”, rừng “chọt”,

Ngập rừng “bông” rừng tre bên suối,

Nước cuộn trôi xuôi xa xa tít”.

Trong mùa mưa, có khi hàng tuần, trời bị bao phủ bởi một màu chì ảm đạm. Nhưng ở miền Điện Biên ít thấy có những cơn dông to, bão lớn. Gió thổi đều theo hướng Tây Nam, chỉ đôi khi gió chuyển hướng đột ngột từ đông bắc lại vào mùa khô lạnh.

Vùng Điện Biên đã lắm đất, của lại nhiều. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục đã nhận xét rất tinh tường: “Châu này, thế núi vòng quanh, nước sông bao bọc, đồn sở ở giữa, ruộng đất bằng phẳng mầu mỡ bốn bên đến chân núi, đều phải đi một ngày đường, công việc làm ruộng bằng nửa công việc châu khác, mà số hoa lợi thu hoạch lại gấp đôi. Thổ sản có sa nhân, sáp vàng, diêm tiêu, lưu hoàng và sắt sống. Có một quả núi, nước suối rất mặn, thú rừng thời thường đến uống, người địa phương dùng nỏ bắn được rất nhiều, tục gọi là “mỏ thịt”6.

Điện Biên xưa lại là nơi qua lại của nhân dân miền tây bắc Đông Dương, miền tây nam Trung Quốc và việt Nam.

Thật vậy, xưa kia đó là nơi nằm giữa con đường giao lưu văn hóa. Nếu ta chấp nhận giả thuyết được nhiều nhà thực vật học và dân tộc học đồng tình là cây lúa được thuần dưỡng bởi những cư dân cổ đại cư trú ở miền đông núi Hymalaya, thời qua Điện Biên và một số nơi khác, việc trồng trọt lúa đã được đưa vào miền ven biển Đông Nam Á và Nam Đông Á; với điều kiện sinh thái vô cùng thuận lợi, thứ cây lương thực quý giá đó đã dần thay thế các cây lương thực có từ trước ở vùng này như các loại thân củ, rễ củ, cây bột báng, cây kê. Sự có mặt của văn hóa lúa ở xứ sở của văn hóa Đông Sơn đã góp phần làm cho khu vực Đông Nam Á trở thành một trong những trung tâm văn minh cổ của thế giới, đã làm cho văn hóa lục địa Đông Dương và Đông Nam Á nói chung đến thời kỳ kim khí trở thành thống nhất, với một thời kỳ hoàng kim rực rỡ, mà cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đánh giá thật đầy đủ.

Điện Biên cũng lại chứng kiến những luồng giao lưu giữa văn hóa của các cư dân trồng trọt bản địa với văn hóa của các cư dân du mục xa xôi miền Trung Á, làm cho các dân tộc ở hai vùng này có những mối quan hệ gắn bó, làm cho tác dụng của việc trao đổi đó thêm mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy văn hóa các cư dân trong vùng.

Chính vì vậy mà ngày nay trong các di chỉ khảo cổ học, cũng như trong các tàn tích văn hóa phản ánh qua tư liệu dân tộc học, còn thấy rõ những yếu tố văn hóa Trung Á trong văn hóa Đông Nam Á và ngược lại1. Điện Biên trong lịch sử lại là đường vận tải văn hóa từ Ấn Độ qua Việt Nam với những ảnh hưởng của đạo Bà la môn và Phật giáo.

Ngược lại, cũng qua đây các cư dân bản địa ở Đông Dương đã chuyển sang Ấn Độ và tây nam Trung Quốc những thành tựu văn hóa truyền thống của mình.

Cho đến những năm cuối thế kỷ thứ XIX, và đầu thế kỷ thứ XX, thậm chí  đến tận những năm 40 của thế kỷ này, căn cứ vào những hiện tượng còn in khá đậm nét trong trí nhớ của những người già, căn cứ vào những sách vở lưu truyền lại, như nhật ký của Máccô Pôlô2. Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, và các sách của Trung Quốc và đặc biệt của người Thái và Lào viết trên lá cọ hay giấy bản, và gần đây vào những sách của các tác giả thời thực dân Pháp hồi buổi đầu mới sang xâm chiếm nước ta, ngày nay ta vẫn có thể mường tượng được khá cụ thể những con đường xưa tỏa từ Điện Biên đi các địa phương trong lục địa Đông Nam Á.

Các con đường mòn từ Điện Biên tỏa đi khắp những trung tâm chính trị kinh tế văn hóa miền giáp ba nước Việt - Trung - Lào. Dọc theo Mường Pồn, Mường Muôn, có thể qua Mường Tòng tới Mường Lay (Lai Châu) đi Phong Thổ và Lào Cai. Ngược lại, vượt qua Tây Trang là sang đến đất Lào, xuôi xuống miền Sầm Nưa tới Luông Phabăng, ngược lên Phongsaly tới Chiềng Hùng, thủ phủ của khu tự trị Xíp Xoong Păn Na giàu đẹp và cổ kính, hay rẽ sang miền đất của bang San ở thượng lưu hai sông Xaluen và Irauadi của Miến Điện. Cũng từ Điện Biên, nếu đi xa về phía đông nam là vượt qua Mường Phăng tới Mường Âng về Tuần Giáo, từ đó vượt đèo Pha Đin tới Thuận Châu và Mường La, trung tâm của người Thái Đen. Nếu đi về phía tây nam qua miền Tam Luân xuôi Xốp Cộp có thể rẽ sang vùng Trung Lào hay về miền thượng Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh.

Vào mùa khô, với những chiếc thuyền đuôi én trọng tải từ nửa tấn đến một tấn, ta có thể xuôi ngược khắp các dòng sông quen thuộc vùng Tây Bắc. Nếu muốn sang Lào, từ dòng sông Nậm Rốm của đất Điện Biên thuyền rẽ qua sông Nậm Núa cập vào Pắc U để vào sông Nậm U ở Thượng Lào, từ đó thuyền dẫn đến con sông lớn Nậm Khoong (Mêkông). Ngày xưa, từ Điện Biên xuôi về Luông Phabăng, thuyền chỉ đi mất có 15 ngày. Nếu muốn về xuôi, ta chỉ việc đi bộ lên Mường Pồn, nơi quê hương của những vườn cam chín đỏ, cách huyện lỵ Điện Biên có 20 cây số, từ đó thuyền dẫn ta theo sông Nậm Mấc rẽ vào sông Đà, xuôi xuống Tạ Bú qua Tạ Khoa, Tạ Chan (cả ba đều thuộc Sơn La) tới Chợ Bờ, rồi từ Chợ Bờ thuyền xuôi về Thủ đô một cách dễ dàng. Thuyền lên Lai Châu cũng theo đường trên, chỉ khác khi vào sông Đà thì người lái phải kéo thuyền ngược dòng tới Mường Lay để từ đó lại có thể ngược Phong Thổ tới tận Mường Là bên Trung Quốc. Nếu muốn vào Thanh Hóa, người dân Điện Biên sẽ cho thuyền ngược dòng sông Nậm Rốm, từ đó qua Bản Lang ở phía đông Nà Tấu hạ thuyền xuống sông Nậm Cô đi vào sông Nậm Núa. Rồi những người chèo thuyền nổi tiếng của vùng Lai Châu sẽ dẫn họ vào sông Nậm Mạ (sông Mã), qua thác xuống ghềnh, tới miền Xốp Cộp trù phú, xuôi qua đất Lào anh em và tới xứ sở của người Thái, người Mường Thanh Hóa.

Tất nhiên, đi đường thủy thì vất vả khó khăn, nhưng lại lắm điều lý thú. Vì thế, ta không ngạc nhiên thấy xưa kia ở đất Điện Biên nhiều bến, lắm thuyền. Nhân dân ở đây đã quen với đường sông nước, chở hàng từ nơi này qua nơi khác để trao đổi lấy hàng hóa của tứ phương mà họ cần đến. Và ta cũng không lấy gì làm lạ khi biết rằng từ bốn, năm thế kỷ nay, mảnh đất này đã chứng kiến những đoàn ngựa hay bò tải hàng, dài lê thê tới ba, bốn trăm con từ Miến Điện qua, từ miền Xíp Xoong Păn Na xa xôi tới, hay từ miền Mường Là Trung Quốc sang. Những đoàn vật chở hàng này đi qua Điện Biên, dừng lại đó vài ngày rồi lại vượt rừng núi tới Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, v.v...

HTDB phan 1 anh 3
Quốc lộ 6 đường đến Điện Biên Phủ

Những con đường đầy vất vả, gian nan nhưng đôi chút thơ mộng xưa kia đó ngày nay đã bị các con đường cái lớn rải nhựa hay đổ đá thay thế. May ra chỉ còn lại những con đường mòn tắt của người dân bình thường đi thăm bà con, hay là của các đồng chí Công an võ trang ngày đêm căng mắt căng tai đi tuần tra bảo vệ cuộc sống yên lành của nhân dân trong vùng.

Ngày nay, đường từ Điện Biên tỏa đi đã nhiều, không chỉ có đường bộ, đường thủy mà còn có đường hàng không. Từ Điện Biên về Hà Nội, con người quê hương của chiến thắng lịch sử 1954 có thể tỏa đi khắp mọi nơi không chỉ trong phạm vi Tổ quốc Việt Nam mà cả ra khắp năm châu bốn bể. Ngược lại, khách du lịch đủ các màu da, tiếng nói khác nhau cũng dễ dàng tới tham quan Điện Biên, nơi chôn vùi thảm hại số phận của chế độ thực dân cũ nói chung và của thực dân Pháp nói riêng.

Cho nên, khác với những thị trấn hay những điểm cư dân khác trong vùng, dưới mắt của người nghiên cứu lịch sử văn hóa, đất Điện Biên có nhiều điểm độc đáo. Di lích lịch sử rải rác trên mảnh đất này, phần còn nguyên vẹn ít nhiều, phần chỉ còn vỡ vụn trên nền đổ nát, phần lại chỉ vang vọng trong trí nhớ của con người giàu trí tưởng tượng, nguyên nhân của những cuộc chiến tranh, loạn lạc, chứng tỏ sự hiện diện của những cảnh đổi thay khác nhau trong lịch sử. Chế độ phia tạo, một chế độ phong kiến thế tập bảo thủ của xã hội Thái, bị đụng chạm ngay từ cách đây 200 năm. Không còn một dòng họ cha truyền con nối làm chúa. Chức chúa được đem ra mua bán và được giao cho bất cứ ai dù người địa phương hay người nơi khác tới tùy theo ý của triều đình.

Con người ở đây, quen với những chuyến buôn bán đi xa và ngược lại cũng thường gặp những đoàn buôn đủ loại từ nhiều nơi đến đi bằng những  phương tiện khác nhau: Thuyền bè, ngựa thồ, xe bò bánh to, của người Kinh, người Lào, người Thái, người Miến, người Trung Hoa, người Hmông... Vì vậy, khi xưa ở nơi “gà ba nước gáy đều nghe tiếng” này, ngoài thứ tiền của Pháp, người ta tiêu cả tiền Tàu, tiền Lảo, tiền Miến, tiền Thái, thậm chí cả tiền ấn nữa, nhưng thông dụng nhất vẫn là bạc nén và bạc trắng. Và cũng đừng quên, ở đây còn thông dụng những chuỗi tiền kẽm và tiền bằng vỏ ốc Cauris Moneta, một loại tiền phổ biến ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương từ thời kỳ đồ đá. Việc tự nguyện chi tiêu thứ tiền do Chính phủ ban hành từ sau 1945 là một thắng lợi nếu không gọi là kỳ diệu của Cách  mạng, một biểu lộ cụ thể niềm tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vùng biên giới này đối với Đảng và Chính phủ.

Do tính quan trọng của vị trí Điện Biên, do sự giàu có của đất Mường Thanh cổ kính, nơi đây trong quá trình lịch sử đã thu hút nhiều dân tộc từ bốn phương trời. Chiến tranh, loạn lạc xảy ra liên tục, đó là một điều tất yếu trong hoàn cảnh một xã hội còn giai cấp còn áp bức, bóc lột ở một nơi hẻo lánh, nhưng trù phú ở miền địa đầu Tổ quốc. Thế nhưng, dẫu sao đất còn lành thì chim vẫn muốn đậu. Các dân tộc tới tụ cư ngày thêm đông, sống chung với nhau cùng sản xuất, cùng chiến đấu bảo vệ đất Mường Thanh. Và: Chính qua quá trình đó, tình cố kết giữa các dân tộc được thắt chặt; Điện Biên tiến dần trong quá trình cố kết dân tộc quốc gia, trở thành một bộ phận hữu cơ của Tổ quốc Việt Nam. Từ đó, vận mệnh của Điện Biên, của con người Điện Biên gắn với vận mệnh của Tổ quốc Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Cho đến ngày hôm nay, đất Mường Thanh được coi là quê hương của gần một chục dân tộc anh em. Họ đến Điện Biên vào những thời kỳ lịch sử khác nhau, trong nhiều trường hợp không giống nhau. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đã thúc đẩy họ đoàn kết với nhau và làm cho họ gắn bó tha thiết với mảnh đất anh hùng và giàu đẹp.

Gần chục dân tộc anh em, đó là người Kinh, người Thái, người Hmông, người KhơMú, người Coống, người Tày, người Lào, người Kháng, người Xinh Mun đã chung sống trên vùng đất này. Người Kinh sinh sống tập trung ở các thị trấn, ở dọc đường quốc lộ, làm việc ở các nông trường các xí nghiệp, các xưởng thủ công hoặc trong các đơn vị khai hoang phục vụ trong Quân đội nhân dân hay Công an võ trang. Con cháu của những người đầu tiên theo Hoàng Công Chất lên giải phóng đất Mường Thanh nay không còn thấy ai. Để tránh sự khủng bố của họ Trịnh, họ phân tán vào sinh sống với đồng bào Thái và đến nay đã Thái hoá. Nếu lưu ý, ta cũng còn thấy bóng dáng của họ qua một vài nét bắt gặp ở một số làng bản vùng xung quanh lòng chảo, ở đây người dân bình thường địa phương nếu được thẩm vấn vẫn trân trọng tự nhận là con cháu của “Keo Chất” (tức người Kinh tên là Chất) theo cách đồng bào Thái gọi họ Hoàng.

HTDB phan 1 anh 4
Cầu Mường Thanh thực dân Pháp xây dựng từ khi chiếm lại Điện Biên Phủ.

Khi triều đình thấy rõ tầm quan trọng của địa điểm Mường Thanh, một số người Kinh được tập trung lên vùng địa đầu Tổ quốc phía tây này. Lại thêm một số gia đình người Kinh do nghèo khổ phải lên lập nghiệp ở đây. Song, cho đến trước Cách mạng Tháng Tám, số người Kinh chưa có là bao nhiêu. Pavi một người Pháp đã đặt chân lên đất Mường Thanh vào cuối thế kỷ thứ XIX có nói ở thị trấn thấy khoảng năm bảy nhà người Kinh. Từ cuộc kháng chiến chống Pháp và Nhật, nhất là sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, người Kinh lên xây dựng quê hương mới ở Điện Biên ngày càng đông. Ban đầu, họ là những người đã cùng đồng đội mang thân cản giặc bảo vệ đất Điện Biên, đã góp phần tạo nên niềm vinh quang  đời đời cho mảnh đất Mường Thanh. Chiến tranh kết thúc, hoà bình lập lại, theo lời kêu gọi của Đảng, nặng nghĩa, nặng tình với những người anh em các dân tộc đã từng đùm bọc nuôi dưỡng trong chiến đấu, họ từng cởi bỏ áo lính nhưng lại vận động giác ngộ gia đình bà con họ hàng tình nguyện ở lại tiếp tục đổ mồ hôi trên những luống cày, những nhà máy để góp phần xây dựng lại Điện Biên. Họ còn là những nông dân mới chỉ biết núi rừng qua sách báo, bản thân nhiều người chưa đi qua quá tam giác chân sông Hồng, tình nguyện rời bỏ quê hương, lên xây dựng các khu kinh tế mới để làm giàu cho Điện Biên, cho Tổ quốc, kiên nhẫn và chịu đựng gánh vác những khó khăn vất vả ban đầu trong việc khai hoang phục hóa với lòng mong muốn làm sao Điện Biên thêm mảnh ruộng lúa xanh, thêm rừng cây công nghiệp, thêm đàn trâu mộng, đàn bò sữa. Họ cũng là những giáo viên nhân dân, những cán bộ văn hóa, cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ Đảng v.v... lăn lộn với đồng bào, năm này qua năm khác, đem tiếng nói của Đảng, của khoa học lên khai sáng cho người dân mà thời trước cuộc sống thường bị mây mù núi rừng che phủ, bị giai cấp bóc lột dìm sâu trong ngu dốt và nghèo khổ.

Trên quê hương mới, họ được lớn lên trong sự đùm bọc đầy tình thương của đồng bào địa phương, trong mối tình trong sáng của sự đoàn kết giữa các dân tộc anh em, trong thiên nhiên khá ưu đãi của đất Điện Biên lịch sử. Họ là những người con chim từ bốn phương bay tới làm tổ ấm bên cạnh hàng chục dân tộc anh em.

Sinh hoạt ở một địa phương mới, trong những cơ sở sản xuất xã hội chủ nghĩa và được chủ nghĩa xã hội tạo nên, tiếp thu trực tiếp những kinh nghiệm tốt đẹp của các dân tộc anh em trong lĩnh vực sản xuất và đời sống, họ đang tạo cho bản thân một cung cách sinh hoạt, mặc dầu vẫn chung nhất nhưng đã có những đặc tính Điện Biên, khác với những người anh em còn ở lại quê hương. Đó là do họ ít chịu sự ràng buộc bởi những tập tục của một môi trường quen thuộc, với ao thu thơi thả nhưng tù túng của những làng xã cổ truyền đồng bằng Bắc Bộ. Đó là do họ hấp thụ mau hơn những cung cách của chế độ xã hội chủ nghĩa đương hình thành một cách trọng sáng ở miền núi, nơi ít bị tha hóa bởi một xã hội có giai cấp đã phát triển dưới xuôi, bởi ảnh hưởng của văn hóa thực dân dễ bề tiếp cận. Về một phương tiện nào đó, với trình độ văn hóa cao hơn, với năng lực tri thức và khoa học kỹ thuật được trang bị tốt hơn, những người cán bộ Kinh này đã góp phần thúc đẩy Điện Biên tiến mau trên con đường thực hiện ba cuộc cách mạng mà cách mạng kỹ thuật là then chốt...

Hiện nay dân số người Kinh đứng hàng thứ hai trong huyện, chỉ sau người Thái.

Người Thái có mặt ở Điện Biên muộn nhất là cùng thời với người tù trưởng Lạng Chượng tiến quân vào đất Mường Thanh đặt dinh ở quả đồi A1 ngày nay. Từ đó đến nay đã được trên dưới 800 năm. Người Lự, một dân tộc bà con với người Thái nay vắng bóng ở Điện Biên đã để lại trên dải đất này không ít di tích lịch sử. Họ đã có mặt tại đây vào những thế kỷ đầu Công nguyên và có thể nói được rằng từ thế kỷ thứ XVIII trở về trước, đất Điện Biên phần quan trọng gắn liền với lịch sử dân tộc Lự. Cũng như người Lự, do chiến tranh loạn lạc, con cháu số người Thái cư trú ban đầu cho đến nay còn lại trên đất này không còn bao nhiêu, và thực ra cũng khó lòng xác định cho chính xác. Chỉ biết rằng hiện nay hiếm thấy gia đình Thái nào nhận là con cháu họ. Dòng họ chúa đất ở Mường Thanh đã không còn giữ quyền thế tập gần 200 năm nay, nên không để lại một phả hệ như các dòng họ chúa nơi khác. Chế độ mua bán chức tước đã phổ biến từ trước khi thực dân Pháp sang xâm chiếm nước ta, cộng với tình trạng không ổn định của các bản làng, chứng tỏ sự xáo động dân cư khá lớn và liên tục trong nội bộ dân tộc Thái. Hiện nay, người Thái ở Điện Biên thuộc ngành Thái Đen phần lớn ở Mường Quài (Tuần Giáo, Lai Châu), Mường Muổi (Thuận Châu), một phần ở Mường La, Mường Mụa (Mai Sơn) thuộc tỉnh Sơn La, thiên di lên qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Thời kỳ gần đây nhất và ồ ạt nhất xảy ra cuộc di dân lớn của người Thái tới Mường Thanh là thời kỳ Cầm Ten hay Bạc Cầm Tiến liên kết với người tù trưởng Khơ Mú đánh giặc Cờ Vàng.

Người Thái từ trước đến nay là cư dân chiếm dân số đông nhất ở Điện Biên. Họ là những người làm ruộng có kinh nghiệm sử dụng sức nước vào việc canh tác cũng như trong việc phục vụ đời sống. Nhìn hệ thống mương phai ngang dọc trên cánh đồng Mường Thanh, ngắm hàng ngàn các cối giã gạo cánh quạt tự động trên các dòng sông, khách qua đường hết sức thán phục trí thông minh tài giỏi của người đàn ông Thái cũng như không kém thán phục sự khéo tay của người phụ nữ Thái qua các mẩu vải ngũ sắc rực rỡ do bàn tay lao động cần cù và tinh tế của họ dệt ra. Thóc lúa họ làm ra trước đây không những nuôi sống bản thân họ, mà còn là hàng hóa trao đổi làm thỏa mãn sức mua của các cư dân quanh vùng. Người Thái Điện Biên còn giỏi nghề chài lưới, việc đi thuyền xuôi ngược, tài chăn nuôi trâu bò, gà lợn, biết rèn sắt, làm đồ gốm. Cho nên đời sống vật chất của họ có khá hơn những vùng xung quanh, đảm bảo cho họ một đời sống tinh thần phong phú biểu hiện ở những điệu múa, câu ca, những tác phẩm văn học.

Nhờ có một cơ sở xã hội ổn định, một nền văn hóa khá cao, một đời sống kinh tế trù phú, dân tộc Thái là nhân tố thu hút các dân tộc quanh vùng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương của mình. Nhưng lịch sử cũng dạy các dân tộc  vùng biên cương này rằng, chỉ một khi Tổ quốc có hùng mạnh thì quê hương mới được bảo vệ. Hoàng Công Chất đã cùng các tù trưởng Thái cứu các dân tộc Điện Biên khỏi ách đô hộ của giặc phỉ. Triều đình đã ra sức ngăn cản những mưu đồ xâm lược của giặc Xiêm vào thế kỷ XIX. Và rõ rệt nhất, Đảng cộng sản Việt Nam, với chủ nghĩa Mác - Lênin bách chiến bách thắng, mới có thể giải phóng dân tộc Thái khỏi ách áp bức của thực dân Pháp và chế độ phía tạo, một chế độ phong kiến áp đặt trong xã hội Thái hàng ngàn năm mới bị đánh độ tận gốc. Đối với một xã hội mà trong quan hệ chỉ một bên là nông dân một bên là địa chủ thì không thể tự mình có lực lượng để tự giải phóng. Và chính Đảng Cộng sản ngày nay đã tạo nên trong dân tộc Thái nói chung và ở Điện Biên nói riêng, một đội ngũ công nhân và trí thức xã hội chủ nghĩa, đã xây dựng từng bước một đời sống tươi đẹp trong đó nhân dân làm chủ.

Vì vậy dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân dân tộc Thái đã góp hết sức mình vào công cuộc kháng chiến chống Pháp, bảo đảm cho Chiến thắng Điện Biên Phủ đi đến thắng lợi, cũng như đã đóng góp phần xứng đáng vào công cuộc chống Mỹ cứu nước vừa qua. Họ cũng là những người chủ chốt xây dựng quê hương Điện Biên xã hội chủ nghĩa và người bảo vệ Mường Thanh chống lại âm mưu xâm lược của bất kỳ thế lực đế quốc và phản động nào.

Người Hmông cư trú ở những đỉnh núi cao ven quanh lòng chảo Điện Biên. Do không chịu khuất phục dưới chế độ áp bức và chính sách đồng hóa của triều đình phong kiến Trung Quốc, người Hmông sang Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX. Họ đã tìm thấy ở Việt Nam nơi đất lành  chim đậu, nơi tụ nghĩa của những người bị áp bức, nơi dễ dàng tổ chức một cuộc sống ấm no. Họ tới những triền núi Mường Thanh cách đây khoảng hơn trăm năm. Tới Việt Nam, họ đã cùng các dân tộc anh em liên tục đấu tranh chống áp bức phong kiến.

Điện Biên vinh dự được là quê hương của anh hùng Giàng Tả Chay, người đã lãnh đạo các dân tộc khắp miền tây bắc Tổ quốc, và sau đó các dân tộc hai nước Việt Lào nổi dậy chống thực dân Pháp những năm 1918 - 1922. Người Hmông tiếp tục truyền thống kiên cường bất khuất của mình trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đặc biệt trong việc xây dựng căn cứ kháng chiến chống Pháp như vùng Pù Nhung, Mường Tình và việc chống biệt kích, gián điệp, bảo vệ an ninh cho Tổ quốc. Hiện nay, họ cũng là những chiến sĩ kiên cường trong việc phá tàn âm mưu của bọn phản động quốc tế định gây rối loạn.

Nhìn vóc dáng những thanh niên Hmông, ta có thể tự hào đó là những chim ưng trên đỉnh núi. Với sự cần cù lao động một cách đáng kính phục, họ đã  biến những tràng cỏ gianh thành đồng ruộng, sáng tạo nên một văn hóa in đậm dấu ấn của dân tộc mình. Họ là một trong những cư dân đưa cày lên trên rẻo cao, gắng thâm canh các thửa ruộng bậc thang bằng cách xen canh gối vụ và bón phân. Họ cũng là những thợ rèn nổi tiếng, rèn được các nòng súng hỏa mai, những lưỡi mác, lưỡi dao làm vừa lòng những người khó tính nhất. Nhưng thời trước, do quyền lợi  ch kỷ của bọn tù trưởng, với việc canh tác thuốc phiện vô tổ chức, họ đã phá hoại một cách khủng khiếp núi rừng, và chính điều đó đã đẩy dân tộc họ vào cảnh du cư triền miên. Chỉ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, người Hmông được tổ chức lại sản xuất, có điều kiện phát huy những truyền thống tốt đẹp của mình trong sản xuất như thâm canh, chăn nuôi, rèn sắt, trồng lanh v.v.. hay tiếp thu được khoa học kỹ thuật mới, đã bước đầu thực hiện ước mơ tiến tới một cuộc sống định cư. Và một điều cũng chưa từng có trong lịch sử người Hmông là nhân dân lao động Hmông đã làm chủ vận mệnh của mình. Chế độ phong kiến nghiệt ngã nhất ở miền núi với những hình thức tàn nhẫn, đầy bất công với người phụ nữ, với những hình phạt hà khắc quàng vào cổ những hình thức tàn nhẫn, đấy bất công với người lao động… đã bị xóa bỏ. Không còn tiếng khóc khi đưa dâu về nhà chồng; không còn cảnh ăn lá ngón tự tử. Chỉ còn điều kiện cho tiếng hát, tiếng khèn phát triển, cho thanh niên nam nữ Hmông bước vào trường học, vào nhà máy, vào nông trường để tự tạo cho mình một cuộc sống tươi đẹp dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Người Khơ Mú, một dân tộc lâu năm cư trú trên đất nước Lào vào Tây Bắc bằng một mối tình chiến đấu anh em giữa nhân dân hai nước. Người tù trưởng huyền thoại hóa của họ là Chương Han, chàng Chương dũng cảm, đã liên minh cùng người tù trưởng Cầm Ten người Thái đánh đuổi giặc Cờ Vàng. Cuộc chiến đấu không cân sức tuy đem lại sự thất bại cho liên quân nhưng đánh dấu sự có mặt của cộng đồng thuộc ngôn ngữ Môn -Khơme (ngành Paluang - Va) này ở Việt  Nam. Là một dân tộc trình độ phát triển xã hội thấp kém, chuyên sống du canh du cư, bị ràng buộc bởi nhiều tập tục lạc hậu, lại bị chế độ phong kiến đè nén, người Khơ Mú là một trong những dân tộc nghèo khổ nhất ở miền núi Việt Nam. Ở Điện Biên, do thế lực có mạnh hơn, họ vẫn duy trì được một chế độ tự quản dưới sự lãnh đạo của người tù trưởng đồng tộc trong khuôn khổ chế độ “phìa tạo”. Đây cũng là nơi duy nhất trước kia thấy họ có điều kiện canh tác ruộng nước, đời sống đỡ cơ cực và ít bị phong kiến phân biệt đối xử với các dân tộc khác cùng chung sống.

Nghèo khổ dẫn họ sớm đến với cách mạng. Những người cán bộ Tây tiến tìm đến họ và được họ đón tiếp chân thành và họ sớm trở thành những người đồng chí, đồng lòng. Mảnh đất họ sinh trưởng là những căn cứ du kích thời kháng Pháp, cũng là nơi chống trả ác liệt trong cuộc chiến tranh phá hoạ chống đế quốc Mỹ. Đó cũng là nơi không dung tha những bọn gián điệp, biệt kích qua biến giới vào.  Người anh hùng Công an võ trang Quàng Văn Liên mà theo dòng họ dân tộc là Rvai, tức là hổ, đã làm vẻ vang cho dân tộc Khơ Mú và cho đất nước bằng thành tích chiến đấu của mình.

Cách mạng đã đem lại cho họ một cuộc đời mới. Những bản Khơ Mú đã định cư vào hợp tác. Nhiều bản thành lá cờ đầu trong phong trào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở địa phương như Tát Mạ, Phú Tứu... Nhưng khó khăn trở ngại còn hiều trên bước đường trưởng thành đối với dân tộc này, nhất là trong việc đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ khoa học, kỹ thuật.

Người Xính Mun, người Kháng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơme cũng như người Công (nhóm Mầng Nhé) cũng tham gia vào thành phần cư dân huyện Điện Biên. Nếu tổ tiên người Xinh Mun, người Kháng rất có thể là những người có mặt đầu tiên trên dải đất này thì người Công tuy đã có mặt ở tây Đông Dương và Tây Nam Trung Quốc vào những thế kỷ đầu Công nguyên, mới từ miền đông dãy Hymalaya tới đất Điện Biên này chưa bao lâu. Cả ba dân tộc này hiện nay ở Điện Biên không đông lắm. Người Công chỉ cư trú vỏn vẹn trong bản Pasa Xá thuộc xá Pá Thơm ngay trong cánh đồng lòng chảo Điện Biên, bên cạnh người Lào ở bản Pasa Lào. Người Kháng mới chỉ thấy cũng ở một bản ở vùng giáp huyện Mường Lay gần người đồng tộc của họ ở bản Quảng Lâm xã Mường Tòng thuộc huyện Mường Tè. Chỉ còn người Xinh Mun tập trung tương đối đông hơn ở một số bản ở cuối huyện, giáp huyện Sông Mã khi xưa là tổng Mường và thuộc huyện Điện Biên. Họ là những nhóm cư trú ở phía bắc của cả một dải cư dân đồng tộc sinh sống theo một vệt từ huyện Yên Châu lên tới cửa con sông vùng Xốp Cộp. Cũng như người Khơ Mú, những dân tộc này bị phong kiến áp đặt chế độ phân biệt đối xử tàn nhẫn, và cả dân tộc họ là đẳng cấp nông nô của xã hội “phia tạo”. Họ sinh sống trên lưng chừng núi, nay đây mai đó bên cạnh những mảnh rẫy, nay đã được tụ cư thành làng, thành hợp tác xã. Họ còn nghèo nhưng rất giàu tình người, chân thật, cởi mở, mến khách, dũng cảm. Họ là những người được Cách mạng, Đảng và Chính phủ đem lại ánh sáng tự do, quyền được làm người thực sự, được bình đẳng với các dân tộc khác, đồng thời cũng là những người đầy tình nghĩa với cách mạng trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Bản làng họ luôn tiếp đón người của Đảng đến cư trú, và họ đã nuôi dưỡng cưu mang trong những năm bí mật. Sau khi được giải phóng, họ là người bạn trung thành của các đội viên Công an vũ trang. Không một tên phản cách mạng nào  mong được họ tha thứ, vì cuộc sống đã dạy họ rằng số phận bản thân họ gắn liền với số phận của Tổ quốc, của cách mạng.

HTDB phan 1 anh 5
Dấu tích khói thuốc nổ 990kg của Quân đội Việt Nam
đánh vào đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Người Lào lập nghiệp ở Điện Biên đã lâu. Những chiếc tháp, những tượng Phật khắc trong hang đá là những di tích của họ để lại. Người Lào ở đây thuộc nhóm Lào Bốc (Lào ở cạn) hay Lào Nọi (Lào nhỏ), phong tục gần với người Thái. Điều có thể phân biệt được là chiếc nhà lòng rộng, vài nghi thức liên quan đến một thứ đạo Phật dân gian, món mắm cá “pà đẹc” ngon nổi tiếng của họ.

Người Tày, ngược lại, tới Điện Biên muộn hơn nhiều, chỉ vào những năm 30 của thế kỷ này. Họ là những nông nô của một tên tri châu Tày được bổ nhiệm lên Điện Biên và mang từ Cao Bằng sang theo, nay định cư tại đó.

Dù tới đã lâu hay mới đến, người Lào cũng như người Tày đã coi Điện Biên là nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Họ sống tập trung đông đúc từ 50 đến 100 nóc nhà bên cạnh những cánh đồng phì nhiêu, men theo các sườn đồi, hoặc dọc theo các con sông nhỏ, các khe suối râm mát nước chảy lững lờ. Họ là những nông dân cần cù, ngày đêm lao động trên những mảnh ruộng bên những con nước quen thuộc hay cạnh chiếc phai cổ truyền. Họ là những người thợ dệt khéo léo với những thổ cẩm đặc sắc, những người lái thuyền can đảm, những người quăng chài lành nghề. Cũng như người Thái, họ là chủ nhân của những điệu múa uyển chuyển, những câu dân ca trữ tình tràn ngập sức sống. Họ ưa cuộc sống hòa bình, nhưng cũng là những người kiên cường bất khuất trước bất kỳ kẻ thù nào động chạm đến Tổ quốc; đến mảnh đất quê hương thân yêu của họ.

Theo các tác giả Đặng Nghiêm Vạn - Đinh Xuân Lâm  (Từ cuốn Điện Biên trong lịch sử, NXB Khoa học xã hội 1979)

1. Mường Then là mường trời. Theo truyền thuyết, đó là nơi cư trú của các thần thánh (cácthen) và tổ tiên các dân tộc ở Tây Bắc.

2. Mường Theng: Âm gọi chệch đi của Mường Then. Cũng có người giải thích âm gọi chệch của Mường Kheng tức là mường của những người bất khuất không chịu thần phục ai, ý chỉ thời kỳ Hoàng Công Chất lên cố thủ ở đó đã giúp nhân dân Mường Thanh sống tự lập không chịu cúi đầu trước chúa phong kiến Lào, không quy lụy trước quan lại Vân - Nam và cũng không thần phục triều đình dưới xuôi

3. Ba nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa nhân dân Lào và cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

4. Nậm Rốm là con sông hung dữ. Đồng bào Thái thường kể đó là do trời tạo nên sau khi định trừng phạt loài người bởi nạn hồng thuỷ.

5. Trích ca dao bốn mùa của đồng bào Thái

6. Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục (Bản dịch của Phạm Trọng Điềm). Nhà xuất bản sử học, Hà Nội, 1962, tr 359-360.

Kim Yến (st)  
http://www.bqllang.gov.vn  

Còn nữa

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Tin vắn

  • * Tính đến năm học 2017 - 2018 Phòng GD&ĐT huyện có 39 trường đạt chuẩn quốc gia
    Mầm non, mẫu giáo: 10 trường; tiểu học 18 trường; THCS 11 trường
  • * Tính đến hết học kỳ 1 năm học 2017 - 2018 Phòng GD&ĐT huyện có 86 trường trực thuộc với 1 214 nhóm, lớp và 33178 học sinh
    Mầm non, mẫu giáo 16 trường, 183 lớp với 5223 cháu; tiểu học 49 trường,747 lớp với 17.881 học sinh; THCS 21 trường, 284 lớp với 10.074 học sinh
  • * Toàn huyện hiện nay còn 48 trường tiểu học trực thuộc Phòng GD&ĐT
    Ngày 26/3/2018, Ủy ban nhân dân huyện Trần Văn Thời ra Quyết định số 1327/QĐ-UBND về việc giải thể trường tiểu học Đất Biển sáp nhập vào trường tiểu học 3 Phong Điền.

Thư mục tài liệu


Open all | Close all

Liên Kết Website

 

Danh Ngôn Cuộc Sống

Ai than thở không bao giờ có thời gian, người ấy làm được ít việc nhất.

Hỗ trợ trực tuyến

Quản trị
Name: Lâm Tấn Điền

Thống Kê Truy Cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 19

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 18


Hôm nayHôm nay : 2111

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 36755

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5744210